Monday, 11 May 2015

Giảng bình 039-042

 




 

Hoa điền (7) ủy địa vô nhân thâu
Thúy kiều kim tước ngọc tao đầu (8)
Quân vương yểm diện cứu bất đắc
Hồi khan huyết lệ tương hòa lưu


Các đồ trang sức rơi trên mặt đất không ai nhặt lên. Quân vương đau đớn che mặt, không sao cứu nổi. Quay đầu lại trông thấy cảnh thương tâm ấy, máu và nước mắt hòa lẫn nhau chảy xuống ròng ròng.


Ai người nhặt thoa rơi bỏ đất,
Ôi Thúy Kiều ngọc nát vàng phai.
Quân vương bưng mặt cho rồi,
Quay đầu trông lại, máu rơi lệ dàn.

Người đã chết. Thoa rơi còn ai nhặt nữa? Để làm gì? Để giữ lại kỉ niệm? Vô ích! Ôi Thúy Kiều ngọc nát vàng phai.

So với nguyên văn: Hoa điền ủy địa vô nhân thâu, Thúy kiều kim tước ngọc tao đầu , và Vô Danh dịch: Hoa điền rớt đất không ai thâu. Nguyên văn của Bạch Cư Dị vẫn chỉ ghi lại sự việc. Câu thơ của Tản Đà không chỉ ghi suông. Ôi Thúy Kiều ngọc nát vàng phai! Ngọc nát vàng phai chỉ ngọc vàng bỏ rớt (đồ trang sức của Quý Phi — Thúy Kiều: cái thoa làm như hình con chim thúy). Mà cũng là tượng trưng cho người đẹp đang chết. Lời thơ bóng bẩy. Nói một mà thành hai. Và cuối cùng thành MỘT.


Quân vương bưng mặt cho rồi! Bưng mặt để làm gì? Bưng mặt dùng nghe hay hơn che mặt (yểm diện ), bởi vì trong tiếng Việt bao giờ bưng mặt cũng đòi hỏi tiếng động từ khóc ở sau (Bưng mặt khóc rưng rức...) Ở đây Tản Đà lại dùng bưng mặt mà không cần đưa tiếng khóc ra. Lại như muốn che lấp đi, xóa bớt ý nghĩa khóc đi dưới hai tiếng cho rồi... Thế thôi, thôi thế, thì thôi, mới là... Có nghĩa gì đâu! Rằng không thì cũng vâng lời rằng không. Rằng không thôi thế thì thôi. Quân vương bưng mặt cho rồi. Toàn là những tiếng vô nghĩa trở thành huyền diệu dưới ngòi bút của thiên tài. Hỏi ở nhân gian có dân tộc nào có những ngôn ngữ đẹp như thế không? Ta yêu tiếng nước nhà như yêu canh rau muống, cà dầm tương vậy.


Để ý: ai, rơi, bỏ, nát, phai... Ngọc vàng nát phai bỏ đất. Tưởng không có cách gì tìm ra những tiếng gợi hình buồn tủi hơn.


Và cái chỗ đau đớn nhất lời thơ đã cho thấy là ở chỗ không cho thấy giây phút đau thương. Sau này mới quay đầu trông lại, lệ sẽ dàn khi nhìn thấy máu trôi. Nhưng chính cái giây phút quằn quại, giai nhân mở to mắt nhìn đời vĩnh biệt, thì quân vương, và chúng ta, và thi sĩ cũng đều bưng mặt cho rồi.






Saturday, 2 May 2015

Giảng bình 035-038




西


 

Thúy Hoa dao dao hành phục chỉ
Tây xuất đô môn bách dư lí
Lục quân bất phát vô nại hà
Uyển chuyển nga mi mã tiền tử


Cờ thúy hoa đương phất phới giong ruổi trên đường, bỗng dưng dừng lại, lúc đoàn quân vừa ra khỏi cửa kinh đô hơn trăm dặm về phía tây. Sáu quân không chịu tiến, không biết làm sao. Vua đành lòng để cho người đẹp oằn oại chết dưới ngựa.


Đi lại đứng hơn trăm dặm đất,
Cờ Thúy Hoa bóng phất lung lay.
Sáu quân rùng rắng làm rầy,
Mày ngài trước ngựa lúc này, thương ôi!

Cũng một giọng điệu khó hiểu. Không biết thật hay đùa. Thi nhân ái ngại hay mỉa mai. Cười cợt hay thông cảm. Đi lại đứng nghe ra làm sao? Hơn trăm dặm đất nghe ra thế nào? Ba lần điệp phụ âm đ có quỷ quái lắm không? Lại thêm cái bóng cờ Thúy Hoa bóng phất lung lay. Thơ mộng hay não nùng. Tiếng lung lay Tản Đà dùng rất lạ. Nếu dùng như bà Đoàn Thị Điểm: hàng cờ bay trông bóng phất phơ, ta sẵn sàng cho rằng nói về bóng cờ, tiếng phất phơ thích hợp hơn tiếng lung lay. Nhưng trong lời thơ của thiên tài, lung lay lại trở thành gợi hình vô hạn, chân xác hơn phất phơ một trăm lần. Vì nó mới mẻ. Nó không sáo. Nó buộc người ta phải nhìn lại một hình ảnh quá quen với hai con mắt mới, giữa những tang thương xô bồ. Thấy lung lay bởi vì thị quan thờ thẫn? Bởi vì người ta đã có thể tiên cảm sự bất hạnh sắp làm lung lay đời mình. Tấm thân mình có đứng vững giữa rùng rắng sáu quân?

 Sáu quân rùng rắng làm rầy... 

Ta dừng lại. Tiếng lung lay ở trước cũng như tiếng rùng rắng ở sau phải được chấp thuận với tất cả một cái nhìn mới mẻ cảm thông. Và rúng rắng làm rầy với 3 lần điệp phụ âm r đã cho phép ta trở lại với một tâm tình thỏa đáng với 3 lần điệp phụ âm đ ở trên đã chuẩn bị cho cái rúng rắng làm rầy ở dưới. Lời thơ kêu gọi nhau, sít sao trong âm hưởng của thiên tài trực giác giãi bày cho não nùng nông nỗi na năng...

Sáu quân rùng rắng làm rầy,
Mày ngài trước ngựa lúc này, thương ôi!
 

Không một tiếng thừa. Không một tiếng thiếu. Trường Hận Ca nghìn thu dằng dặc chung đúc trong 2 câu hết sức đơn sơ. Cái chết cũng không cần gọi rõ tên. Một tiếng thương ôi ở sau mày ngài trước ngựa đã nhiều lắm rồi.

Mày ngài trước ngựa lúc này, thương ôi! 

Tại sao lại thêm lúc này? Phải. Lúc này không còn như lúc trước nhé. Sáu quân lúc này không dễ khiến đâu nhé. Không dễ bảo như những con hầu nâng dậy lúc xưa đâu. Dù bận ấy vua yêu. Dù bận ấy vua dấu. Một tiếng lúc này của Tản Đà nói nhiều quá.


So với nguyên văn sẽ thấy gì? Ta không dám dùng tiếng so sánh nữa. Nga mi mã tiền tử
: mày ngài chết trước ngựa, Bạch Cư Dị phải dùng tiếng chết mới nói được cái chết. Tản Đà không dùng tiếng chết mà nói được cái chết thảm thương hơn. Đưa vào thêm một tiếng lúc này. Thế là hết. Phút giây hiện tại lỡ làng này sẽ xóa bỏ vô hạn của quá khứ thân yêu và gây nên vô biên cho những tương lai nhớ tiếc. Cho đến bây giờ chúng ta lần giở lại... lời thơ của người còn nói lại những gì nữa với chúng ta? Thời gian dừng sững lại giây phút đây để gọi về anh hồn của một thiên tài oanh liệt giữa sông Đà núi Tản đã kết tinh. Tấm lòng xót thương của người mênh mông quá.

Nguyên văn chỉ như ghi chép sự việc lại đó để chờ thiên tài nước Việt đúc kết ra thơ. Bạch Cư Dị chỉ như là người đi tìm vật liệu để chờ Tản Đà tạo lập, kiến trúc... Cũng như Thanh Tâm Tài Nhân đối với Nguyễn Du.


Tản Đà đã làm thơ? Hay thơ đã cùng Tản Đà chung sống trong một thể xác? Tản Đà sử dụng âm thanh? Hay những âm thanh đã được Thượng Đế dành sẵn đợi Tản Đà? Ta không biết.


Điều nên để ý là con Tạo vốn thương yêu người nghệ sĩ, nên luôn luôn bày ra những trò oái ăm. Đưa bóng mờ che ánh sáng cho dịu bớt. Nếu không thì trần gian chịu sao nổi. Phải có một Phạm Quỳnh ngồi bên. Phải đưa một Bạch Cư Dị ra trước để ta nghĩ rằng Tản Đà chỉ là một dịch giả thôi. Phải có những Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng bên một Nguyễn Du.